Breaking News

Thiếu tướng Đỗ Triệu Phong: “Tử chiến trên không” và “vũ khí” danh dự của người chiến sĩ

Nhìn lại năm 2025 đánh dấu một năm rực rỡ của điện ảnh Việt Nam với tổng doanh thu vượt ngưỡng 3.100 tỷ đồng. Việc phim nội địa chiếm lĩnh 62% thị phần không đơn thuần là một chỉ số kinh tế. Giới chuyên môn cho đó là “sự đảo chiều” của niềm tin nơi khán giả và sức bật mãnh liệt của thị trường điện ảnh nước nhà trên bản đồ điện ảnh thế giới.

“Tử chiến trên không” viết tiếp niềm kiêu hãnh cho điện ảnh Việt khi vinh dự được chọn chiếu khai mạc trong khuôn khổ “Tuần lễ Điện ảnh Việt Nam - Hành trình ánh sáng” tại rạp Le Grand Rex (Pháp) – rạp chiếu phim lớn nhất châu Âu, từng được Time Out bình chọn là rạp chiếu phim đẹp nhất thế giới vào tháng 12 vừa qua. Chiếu cùng với bộ phim do Điện ảnh Công an Nhân dân (CAND) sản xuất tại sự kiện này là loạt tác phẩm đình đám: “Bao giờ cho đến tháng Mười”, “Cánh đồng hoang”, “Mưa đỏ”…

Với doanh thu hơn 250 tỷ đồng, “Tử chiến trên không” chính thức trở thành phim hành động Việt ăn khách nhất mọi thời đại. Bộ phim được lấy cảm hứng từ vụ cướp máy bay có thật tại Việt Nam sau năm 1975, tái hiện cuộc đối đầu khốc liệt trên bầu trời cùng thông điệp đanh thép: "Anh mất niềm tin không có nghĩa là đất nước này không có tương lai".

Trò chuyện với Dân Việt, Thiếu tướng Đỗ Triệu Phong, Cục trưởng Cục Truyền thông Công an Nhân dân đã trực tiếp “giải mã” sự hấp dẫn của “Tử chiến trên không” nói riêng cũng như sự mạnh dạn của Điện ảnh CAND nói chung sau hàng chục năm trầm lắng, từ những “nút thắt” cơ chế đến sự mạnh dạn nhập cuộc sòng phẳng với thị trường điện ảnh nước nhà.

Trước khi “Tử chiến trên không” gặt hái thành công vang dội với doanh thu vượt mốc 250 tỷ đồng, đơn vị từng trải qua một giai đoạn trầm lắng. Nhìn lại cả chặng hành trình phát triển, ông lý giải thế nào về những "nút thắt" được cho là đã “kìm chân” Điện ảnh CAND trong hàng chục năm qua?

- Thật ra, Điện ảnh CAND từng có một quá khứ huy hoàng. Tôi nhớ bộ phim như “Người không mang họ” (khoảng những năm 1990) được công chúng đón nhận nồng nhiệt. Sau đó, đơn vị nằm trong thoái trào chung của điện ảnh toàn quốc.

Cách đây khoảng 15 năm, truyền hình lên ngôi, rất “hot”; trong khi hoạt động tuyên truyền của lực lượng Công an ưu tiên sự nhanh nhạy, thời sự. Ngay tại trụ sở này, vốn là cơ ngơi gốc của điện ảnh, đã được lắp đặt hệ thống trường quay phục vụ truyền hình. Còn điện ảnh từ một đơn vị riêng biệt trở thành một đơn vị trực thuộc Cục Truyền thông Công an nhân dân - Bộ Công an, vai trò không còn vị thế như trước, chủ yếu làm phim phóng sự và tài liệu. Thậm chí, phim tài liệu thời điểm đó “lẫn màu” giữa phóng sự và tài liệu, không hẳn là chuyên ngành tài liệu điện ảnh đúng nghĩa.

May mắn thời gian qua, Đảng, Nhà nước và ngành bắt đầu khôi phục các lĩnh vực nghệ thuật mang tính chất lớn, có vai trò biểu tượng lịch sử đất nước. Tuy nhiên, sự phát triển của điện ảnh Nhà nước nói chung, bao gồm Điện ảnh CAND và Điện ảnh Quân đội bị cản trở bởi nhiều yếu tố, đặc biệt là kinh phí và những bất cập trong quy luật hoạt động, ví dụ như quyết toán. Nghệ sĩ Nhân dân, Nghệ sĩ Ưu tú có định mức của Nhà nước, nhưng sao (diễn viên “ngôi sao” – người có khả năng kéo khán giả ra rạp) do thị trường quy định.

Thực tế, điện ảnh Nhà nước hay đơn vị nào thực hiện cũng phải đảm bảo làm ra tác phẩm mang thông điệp cốt lõi. Chúng tôi đặt ra yêu cầu tác phẩm phải đảm bảo 3 yếu tố: Thông điệp, nghệ thuật và thị trường. Như đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nói: Đó phải là sản phẩm văn hóa, nhưng đồng thời là một thứ hàng hóa để có thể kinh doanh được.

Trước đây, làm tác phẩm bằng vốn ngân sách bị hạn chế bởi số lượng và các rào cản thanh quyết toán. Đây chính là “nút thắt” để điện ảnh Nhà nước quay trở lại.

Phim "Tử chiến trên không" lấy cảm hứng từ vụ cướp máy bay có thật ở Việt Nam Ảnh: NSX cung cấp

Việc một bộ phim ngành bước ra rạp thương mại và chạm tới con số doanh thu kỷ lục, chắc hẳn Điện ảnh CAND đã trải qua một cuộc tập dượt khốc liệt để làm quen với "luật chơi" của thị trường phát hành, thưa ông?

- Chúng ta chưa làm quen với các yếu tố thị trường, từ nhà đầu tư, nhà sản xuất đến đơn vị phát hành. Đáng chú ý, đơn vị phát hành có chiến lược riêng. Có thể họ kinh doanh rạp chỉ để chiếu mà không đầu tư vào phim, họ lấy tỷ lệ phần trăm như một dạng đầu tư “bất động sản” trong điện ảnh. Một thời gian dài, họ có thể chịu đựng cảnh chỉ có vài người xem nhưng vẫn phục vụ như mấy trăm người, và sự chịu lỗ theo thời gian được tính toán kỹ lưỡng.

Ban đầu, chúng tôi khá bỡ ngỡ khi thấy đơn vị phát hành lấy đến 55%, 60%, thậm chí là 70% doanh thu. Chúng tôi từng tự hỏi: “Họ chẳng làm gì sao lại lấy cao thế?”. Nhưng chúng tôi phải chia sẻ với họ khi đã chịu đựng một thời gian quá dài. Đây chính là những vướng mắc khiến Điện ảnh CAND cũng như điện ảnh Nhà nước chưa phát triển thời điểm bấy giờ.

Đặc biệt, để điện ảnh có sự phát triển trở lại, cần thay đổi đồng bộ từ hành lang pháp lý, tài chính cho đến các chính sách hỗ trợ. Riêng đối với Điện ảnh CAND, dù từ trước đến nay lãnh đạo Bộ luôn quan tâm, nhưng bước ngoặt đánh dấu chặng “hồi sinh” mạnh mẽ phải kể đến sự sát sao của Tổng Bí thư Tô Lâm và tiếp nối của Bộ trưởng Lương Tam Quan. Các đồng chí đã dành sự quan tâm đặc biệt cho công tác tuyên truyền và nghệ thuật của ngành Công an, với mục tiêu là xây dựng hình ảnh lực lượng CAND trong mắt người dân thân thiện và gần gũi hơn.

Sở dĩ có sự chuyển dịch này bởi yếu tố mang tính logic thực tế. Thứ nhất, người chiến sĩ Công an thường làm được nhưng không nói được. Thứ hai, nhu cầu thông tin trong đời sống xã hội hiện nay vô cùng lớn. Nếu chúng ta không có những kênh thông tin đủ mạnh để nhân dân thấu hiểu mình thì sẽ dẫn đến những suy đoán thiếu căn cứ hoặc thông tin sai lệch.

Cũng phải nói rằng, dù sống giữa thời bình nhưng lực lượng Công an vẫn đang hy sinh rất nhiều, đặc biệt là trên mặt trận đảm bảo trật tự an toàn xã hội khi các đối tượng hình sự hiện nay ngày càng manh động. Công an tham gia vào mọi ngõ ngách của đời sống, nhưng nếu chỉ nhìn từ bên ngoài thì nhân dân khó lòng thấy hết được những góc khuất hy sinh, cống hiến thầm lặng đó.

Vì vậy, việc làm sao để nhân dân thấu hiểu, chia sẻ và ủng hộ cũng là yếu tố quyết định hiệu quả công tác. Như lời Bác Hồ dạy: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong".

Tôi cho rằng, điện ảnh chính là một trong những loại hình hiệu quả nhất để đưa hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Công an tiếp cận nhân dân và có sức sống bền bỉ theo thời gian. Một tác phẩm cần trung bình từ 12-18 tháng để hoàn thiện, sự kỳ công đó chính là tâm huyết và công sức của các nghệ sĩ. Một tác phẩm hay sẽ đọng lại sâu sắc trong ký ức người xem và được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Quan điểm của chúng tôi rất rõ ràng: Một hãng phim không làm điện ảnh, không thể gọi là hãng phim. Điện ảnh CAND hiện nay thực hiện đa dạng tất cả thể loại, từ phim tài liệu, phim series cho đến phim điện ảnh ra rạp. Bên cạnh nhiệm vụ chính trị là sản xuất phim tài liệu và phim series hàng năm, chúng tôi đang dồn lực cho những tác phẩm điện ảnh thực thụ chạm đến cảm xúc và lòng tin của công chúng, đồng thời khẳng định vị thế Điện ảnh CAND.

Ông có thể lý giải vì sao Điện ảnh CAND lại chọn đề tài “Tử chiến trên không” để đánh dấu sự trở lại, thay vì những đề tài về trật tự an toàn xã hội vốn được khai thác nhiều qua các bộ phim series?

- Điện ảnh CAND chọn đề tài này đánh dấu sự trở lại vì mấy lý do. Thứ nhất, các vụ án trên không của Việt Nam gần như chưa được khai thác trên màn ảnh. Thứ hai, lực lượng an ninh trên không của Việt Nam được thành lập trong một thời gian ngắn. Do đó, chúng tôi muốn có một tác phẩm để nói về tiền thân của lực lượng và cũng là bài học cho lực lượng non trẻ này.

Trong muôn vàn các chiến công, lĩnh vực an ninh trên không mang tính mới mẻ rất cao. Đây chính là yếu tố thị trường mà chúng tôi nhắm đến để tạo ra sự khác biệt, trong bối cảnh khán giả theo dõi phim series dường như đang có tâm lý e ngại vì các câu chuyện hình sự cứ "na ná" giống nhau. Chúng tôi muốn chọn một bộ phim điện ảnh phải thực sự khác biệt.

Sở dĩ chúng tôi tự tin chọn một hướng đi mới mẻ như vậy là vì chúng tôi dựa trên một cái "gốc" rất vững chãi. Chúng tôi xác định đề tài cốt lõi là an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Lực lượng Công an đã đồng hành cùng dân tộc từ ngày thành lập nước với dấu mốc năm 1945 đến nay. Với bề dày lịch sử đó, chúng tôi sở hữu một kho tư liệu khổng lồ, thậm chí có những tư liệu đến nay mới được giải mật.

Đó là minh chứng cho sự cống hiến của cả thế hệ cha anh chứ không thuần túy chỉ phản ánh cuộc sống chiến đấu bây giờ. Từ kho tư liệu lớn ấy, Điện ảnh CAND có thể khai thác và thực hiện bằng nhiều thể loại: Sử thi, hành động, tâm lý xã hội…

Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, xã hội nảy sinh nhiều tội phạm phi truyền thống và những “căn bệnh mới”, ví dụ có những người phạm tội vô thức do trầm cảm, do tác động tâm lý từ gia đình, xã hội… Đến một lúc nào đó, họ bùng phát hành vi sai trái mà chúng ta không ngờ tới.

Vì lực lượng Công an gần như giải quyết tất cả tình huống mất an toàn cho xã hội, nên nhu cầu truyền thông để đưa ra những bài học cảnh giác là rất lớn. Tuy nhiên, cảnh giác chỉ là một mặt. Điều quan trọng hơn chính là giáo dục nhân cách từ cái nôi gia đình. Văn hóa tự thân đầu tiên phải được hình thành từ gốc – gia đình. Chúng ta phải giáo dục cho con em hướng thiện, uốn nắn từ tính căn cốt, không nên để lầm lạc rồi mới tìm cách giáo dục lại.

Như các cụ có câu: “Măng không uốn thì tre uốn khó lại”. Mong muốn của chúng tôi là dùng những bài học xương máu của xã hội để soi rọi lại mỗi cá nhân, mỗi gia đình. Đó chính là sự phòng ngừa căn cốt nhất. Ý thức tuân thủ pháp luật phải bắt đầu từ những hành vi nhỏ nhất. Trong gia đình, đừng chỉ dạy trẻ con “hay – khôn” mà phải dạy chúng “đúng - không đúng”, “được làm - không được làm”… Những người làm phim như chúng tôi bắt nguồn từ chính mong muốn nhân văn như vậy.

Thành công của “Tử chiến trên không” có thể coi là một hiện tượng. Dưới góc độ nhà quản lý, ông nhìn nhận đâu là những nguyên nhân cốt lõi giúp bộ phim này vượt xa kỳ vọng ban đầu?

- Tâm sự thật rằng, chúng tôi làm hết sức mình nhưng không kỳ vọng thành công vang dội đến thế, vì đây là bước đi “chập chững” đầu tiên sau ngày trở lại của Điện ảnh CAND. Tuy nhiên, ngay từ khâu kịch bản, chúng tôi đã kiên định với triết lý: Tác phẩm phải có thông điệp, nghệ thuật và thị trường. Khi làm phim “Tử chiến trên không”, nhiều người, thậm chí có đạo diễn đã hỏi vui rằng: “Ông muốn làm kiểu gì? Có phải dạng phim thuần túy ‘cúng cụ’?” (cười). Tôi khẳng định là: Không.

Thành công của phim “Tử chiến trên không” bởi sự mạnh dạn thực hiện theo cơ chế xã hội hóa (hay nói cách khác là huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động điện ảnh) dưới sự cho phép của lãnh đạo Bộ.

Một tác phẩm điện ảnh ra rạp đòi hỏi đầu tư vô cùng lớn, mức tối thiểu cũng khoảng 20 tỷ đồng, rủi ro rất cao. Ngân sách Nhà nước khó lòng đáp ứng thường xuyên nếu kịch bản đòi hỏi quy mô lớn. Vì vậy, việc huy động nguồn lực xã hội đồng hành cùng Điện ảnh CAND là bước đi chiến lược. Rất mừng là nhà đầu tư tham gia với tư duy không ham lợi nhuận, họ đặt mục tiêu “hòa vốn là mừng” và kết quả đã vượt xa kỳ vọng. Chính sự quyết tâm của Điện ảnh CAND và nhà đầu tư là điểm tựa đầu tiên cho thành công của “Tử chiến trên không”.

Thứ hai là đội ngũ sáng tạo ăn ý. Chúng tôi chọn đạo diễn Hàm Trần và xác định đây là phim hành động. Ban đầu, chúng tôi lấy ví dụ là phim “007”, nhưng bắt tay vào thực hiện mới thấy ở Việt Nam việc quay được cảnh như “007” gần như bất khả thi do thiếu trường quay chuẩn và phương tiện. Điều này khiến chúng tôi trăn trở rất nhiều.

Bên cạnh đó là khó khăn về bối cảnh. Đề tài phim về “không tặc” Việt Nam chưa khai thác. Dù có đội ngũ cascadeur (diễn viên đóng thế - PV), nhưng thủ pháp để giải quyết các tình huống đánh đấm, xử lý xung đột trong một khoang hẹp trên máy bay là một bài toán cực kỳ hóc búa. Chúng tôi đã phục chế nguyên mẫu sắt xi, tổng thành của một chiếc máy bay cũ, phục chế y chang máy bay thật để quay phim. Tuy nhiên, khoang máy bay hẹp như vậy, việc bố trí góc máy khó khăn hơn nhiều các bối cảnh hiện trường khác. Nếu chỉ có đánh nhau mà không giải quyết các ẩn ức, tình huống, tư duy nhân vật thì phim sẽ nhạt nhẽo. Ê-kíp phim “Tử chiến trên không” quyết vượt khó để mang lại hiệu ứng thị giác và cảm xúc mới mẻ cho khán giả.

Chiếc máy bay Douglas DC-4 số hiệu VN-C501 bị không tặc khống chế khi khởi hành từ Đà Nẵng đi Buôn Ma Thuột – Tân Sơn Nhất. Ảnh tư liệu

Về đề tài “không tặc”, tôi chia sẻ thêm rằng, an ninh hàng không trên thế giới thực tế đã có những vụ bị cướp máy bay. Ở Việt Nam, có thể nhiều người chưa biết sự việc từng có các hãng hàng không dân dụng bị cướp máy bay. Sau năm 1975, thời điểm trang thiết bị còn thô sơ, lực lượng "mặt đất" kiểm soát đơn giản nên các đối tượng đã “qua mắt” để mang vũ khí lên máy bay. Nhưng cha anh chúng ta đã rất dũng cảm khi đương đầu hiểm nguy. Khi xây dựng tác phẩm này, chúng tôi mang đầy đủ cảm xúc đặc biệt dành cho cả đội ngũ tiếp viên và những người chiến sĩ năm ấy.

Giữa tính xác thực của tư liệu và tính giải trí của điện ảnh có một ranh giới mong manh. Nhà sản xuất và ê-kíp phim “Tử chiến trên không” đã làm thế nào để giải quyết bài toán: Một mặt phải giữ được tính bảo mật tư liệu và mặt khác vẫn đảm bảo tính giải trí thu hút khán giả, thưa ông?

- Thực tế, chúng tôi không đặt nặng việc giữ bí mật tư liệu, mà quan trọng là thực hiện dựa trên những cốt truyện có thật với tinh thần tuyệt đối không được “bẻ” sự thật hay làm sai lệch bản chất vụ việc. Trong điện ảnh, hư cấu là một quyền năng, nhưng chúng tôi chỉ hư cấu để câu chuyện bớt phần nghiệt ngã, trở nên đẹp hơn hoặc tăng tính kỹ xảo cho bắt mắt. Nghĩa là, khi đưa ngôn ngữ nghệ thuật đến với công chúng, chúng ta phải biết tiết chế các hành động thực tế hoặc cường điệu hóa chúng lên một chút để tăng tính hấp dẫn.

Lấy ví dụ, phim ảnh không thể giải quyết vụ việc bằng cách “đánh nhau từ đầu đến cuối”, mà phải kéo dài nội dung câu chuyện để nhân vật có thêm “đất diễn”. Thực tế, khi lực lượng Công an ra quân, thời lượng giải quyết thường rất ngắn. Tôi khẳng định điều này từ chính kinh nghiệm bản thân từng tham gia chiến đấu. Phương châm của chúng tôi luôn là nhanh, gọn, dứt khoát; gần như không có chuyện kéo dài và cũng không có chuyện thất bại. Nhưng lên phim thì khác, chúng ta có rất nhiều khía cạnh để khai thác sâu hơn, đó chính là vai trò của hư cấu nghệ thuật.

Một cảnh trong phim "Tử chiến trên không". Ảnh: NSX

Còn về góc độ thị hiếu, sự hấp dẫn của bộ phim nằm ở cách kể chuyện. Cùng một nội dung, nhưng mỗi đạo diễn sẽ có một cách xử lý riêng biệt. Cuối cùng, khán giả chính là người thẩm định công tâm nhất; nếu họ thấy hay nghĩa là thành công, còn nếu họ không đón nhận tức là phim thất bại. Trong dự án này, tôi phải nói rằng, Hàm Trần là một đạo diễn xuất sắc, đặc biệt là việc xử lý bối cảnh không gian hẹp và đa tình tiết cho phim hành động. Những phản ứng tích cực từ công chúng đã chứng minh cho sự lựa chọn đúng đắn đó.

Chúng tôi đang nỗ lực mang đến một góc nhìn mới, giúp Điện ảnh CAND tiệm cận hơn với ngôn ngữ thời đại. Những thước phim trước đây có thể rất hay nhưng đến nay đã không còn phù hợp, bởi quan điểm thẩm mỹ của xã hội hiện giờ đã khác đi rất nhiều. Nếu chúng ta cứ lặp lại theo ngôn ngữ điện ảnh cũ, chắc chắn sẽ rất khó chạm đến trái tim khán giả hôm nay.

Nhiều ý kiến khen ngợi “Tử chiến trên không là một “phép thử” cho thấy sự trưởng thành vượt bậc của Điện ảnh CAND. Ông nhìn nhận thế nào về đánh giá này?

- Nói về sự “trưởng thành”, chúng tôi chưa dám nhận ở thời điểm hiện tại vì hơi sớm. Nếu được dùng một từ chính xác hơn cho giai đoạn này, tôi xin dùng từ “mạnh dạn” đúng hơn. Tôi cho rằng, phải thêm vài tác phẩm nữa mới khẳng định vị thế vững chắc của Điện ảnh CAND và tự tin gọi là “trưởng thành”. Bởi lẽ, nghệ thuật là một hành trình dài, nếu tác phẩm tiếp theo không đạt được kỳ vọng, thậm chí thất bại, thì sao có thể gọi là “trưởng thành”.

Sở dĩ tôi nói “mạnh dạn” vì trong cách làm phim, đặc biệt là dòng phim hành động, chúng tôi phải đối mặt với không ít rào cản về mặt quan điểm: Thế nào là bạo lực? Có bạo lực quá không? Tốc độ phim có nhanh quá không?...

Với vai trò nhà sản xuất, khi làm việc với đạo diễn Hàm Trần, tôi yêu cầu tốc độ phim phải nhanh, tiết tấu phải hấp dẫn. Mục tiêu là làm sao để khán giả không thể rời mắt, vì chỉ cần lơ là một chút, họ sẽ cảm thấy lỡ mất nhịp phim và không hiểu diễn biến tiếp theo là gì.

Các nhân vật trong phim được đổi tên, tình tiết cũng có nhiều chi tiết hư cấu so với vụ việc ngoài đời. Ảnh: NSX

Thực tế, thời lượng dự kiến ban đầu phim “Tử chiến trên không” dài hơn (khoảng 120 – 135 phút), nhưng tôi đã đề nghị cắt giảm vì độ căng quá lớn dễ khiến khán giả mệt mỏi. Phim phải nhanh, tiết tấu tốt nhưng tuyệt đối không được nhàm chán. Mọi tình tiết đều phải logic. Ngay cả những tình huống ban đầu tưởng chừng “không liên quan”, nhưng đến cuối cùng phải khiến người xem vỡ òa hiểu ra lý do tại sao tình tiết đó tồn tại. Đó chính là cái hay của thủ pháp kể chuyện.

Khi xây dựng kịch bản, yếu tố thuần phong mỹ tục luôn được chúng tôi đặt lên hàng đầu. Quan điểm của tôi là không lạm dụng bất cứ điều gì. Ví dụ, với bạo lực, dù thực tế các vụ án có nhiều cảnh man rợ, phản cảm, nhưng vì mục tiêu giáo dục thẩm mỹ, chúng tôi không cho phép đưa những hình ảnh đó lên phim.

Thứ hai, nếu phim có yếu tố tình dục, cảnh quay phải đạt đến ngưỡng nghệ thuật để người xem cảm nhận được cái đẹp thay vì những tư duy dung tục. Với “Tử chiến trên không”, trong phim không có những cảnh quay sexy, còn yếu tố hành động cũng được tiết chế rất kỹ để đảm bảo “liều lượng” phù hợp.

Sau cùng, tôi cho rằng, chúng ta có thể học hỏi điện ảnh thế giới rất nhiều điều, nhưng quan trọng và khó khăn nhất vẫn là phải giữ được bản sắc Việt trong tác phẩm của mình. Đây chính là yếu tố cốt lõi để điện ảnh Việt Nam tự tin bước vào sân chơi quốc tế. Dù thủ pháp có hay đến mấy, hiện đại đến đâu, tác phẩm phải chứa đựng bản sắc văn hóa Việt Nam – đó mới chính là linh hồn của bộ phim.

Vậy ông đánh giá như thế nào về sự thay đổi tư duy làm phim trong “Tử chiến trên không” so với những bộ phim trước đây có cùng đề tài an ninh?

- Tôi nghĩ không nên so sánh với các bộ phim trước đây. Bởi khoảng thời gian hơn 30 năm đã ở thời khắc lịch sử khác, xã hội và thẩm mỹ khán giả đã khác hẳn. Trong khi đó, điện ảnh có một yếu tố riêng biệt: "Diễn mà không diễn", tức là làm phim phải như đời thật. Sự mới mẻ ở “Tử chiến trên không” là làm sao để người xem cảm thấy họ đang ở đâu đó, trong một nhân vật hoặc không gian nào đó của chính họ; ở góc tư duy của khán giả, phim phải là thật, là đời thì mới thành công.

Ngay trong nội bộ chúng tôi, tư duy cũng đòi hỏi sự tiệm cận thực tế hơn. Ví dụ, sau này chúng tôi có thể làm những bộ phim mà tính chất nhân vật Công an đa phần là tốt, nhưng vẫn có người xấu. Về tội phạm, bên cạnh hành vi gây án, nhưng bên trong con người họ vẫn có góc hướng thiện. Để người ta hoàn lương, họ phải nhìn thấy một tương lai thật, nếu không thì họ sẽ không hoàn lương. Đây là một cái nhìn mới.

Trước đây, quan điểm "địch bao giờ cũng xấu, ta bao giờ cũng tốt", nhưng đến nay không còn phù hợp. Điều quan trọng nhất là ngưỡng đấu tranh giữa thiện và ác. Dứt khoát thiện phải thắng, lẽ phải chiến thắng, nhưng trong quá trình vận động, nó phải có sự đan xen, “vật vã”, từ đó mới rút ra được những giá trị cốt lõi để hướng thiện. Tôi cho rằng, cách làm phim như vậy tiệm cận với đời hơn, thật hơn và dễ gần hơn.

Thực tế, sau khi xem phim “Tử chiến trên không”, tôi thấy ngoài sự đối đầu căng thẳng, phim còn mang tính nhân văn sâu sắc. Ví dụ như khi xây dựng nhân vật Long – một tội phạm cực kỳ nguy hiểm, nhưng đến phân cảnh cuối cùng khi đứa con của Long cận kề cái chết - chi tiết này dường như chạm được đến phần "người" trong hắn. Vậy chi tiết này là thật hay là sự hư cấu của nhà làm phim để tăng tính nhân văn?

- Thực ra, bất cứ người cha, người mẹ nào cũng vậy, đứa con với họ luôn là điều quý giá nhất. Người ta có thể đánh mất nhiều thứ nhưng không bao giờ đánh mất con cái. Đây là một tình cảm hết sức con người và đời thường.

Về mặt tư liệu, sự kiện máy bay bị cướp là có thật, nhưng chi tiết kẻ tội phạm có đứa con là sự hư cấu nghệ thuật để tăng tính nhân văn. 6 nhân vật nổi bật trong nhóm "không tặc" này vốn là lính nguỵ. Sau năm 1975, đa số những người như họ sau khi được giáo dục, cải tạo đã hoàn lương, trở về với ruộng đồng, làng quê. Nhưng cũng có một số người không chấp nhận thực tại bởi ý thức hệ tư tưởng, hoặc do không quen lao động, thậm chí một số người coi “đi lính là một nghề”.

Ngay trong nội bộ phe “cướp máy bay”, họ cũng không đồng thuận với nhau từ trại cải huấn. Mỗi người có một ấp ủ riêng, không hề có tính chính nghĩa mà chỉ vì mục đích cá nhân là thoát thân. Sự mâu thuẫn đỉnh điểm giữa những con người ấy trên phim là cơ bản đúng với thực tế. Chúng tôi đưa chi tiết đứa con của Long vào phim để nhấn mạnh rằng: Ngay cả với những kẻ lầm lạc nhất, tình thân vẫn là sợi dây cuối cùng để họ nhìn lại bản thân mình.

Phải chăng bộ phim “Tử chiến trên không” muốn gửi gắm thông điệp rằng: Nhiệm vụ của người chiến sĩ Công an không đơn thuần chỉ trấn áp tội phạm, mà còn là sự thấu hiểu và nỗ lực hóa giải những mâu thuẫn sâu kín bên trong mỗi con người?

- Có một góc khuất mà chúng tôi luôn trăn trở. Việc bắt một tội phạm không quá khó, nhưng đưa người ta quay trở về với thiện lương là hành trình vô cùng gian nan. Bởi khi một nếp sống sai lạc đã ăn sâu, việc hoàn lương đòi hỏi một sự thức tỉnh tự thân mạnh mẽ. Trong mỗi chúng ta luôn tồn tại hai phần: Tối – sáng, hay nói cách khác là phần “con" và phần “người". Công việc thường trực của chúng tôi chính là khơi dậy phần sáng, phần “người" đó.

Nói rộng ra, trong công tác của ngành Công an, chúng tôi chú trọng phòng ngừa hơn là đấu tranh. Phòng ngừa xã hội bao gồm tất cả hoạt động từ tuyên truyền, giáo dục cộng đồng đến việc gắn kết chặt chẽ với phong trào quần chúng. Những cán bộ Công an cơ sở phải thực sự bám dân, cùng dân giải quyết mâu thuẫn ngay từ trong cộng đồng, trong từng gia đình. Nếu chúng ta chỉ thực hiện việc bắt giữ mà không cảm hóa được con người thì chưa thể coi là hoàn thành nhiệm vụ.

Điều quan trọng nhất là hướng thiện và từ tuyên truyền đến hành động đều phải phản ánh được tinh thần đó. Đây không chỉ là trách nhiệm của ngành mà còn là lương tâm của mỗi cán bộ đối với công việc mình đang làm.

Các thế hệ tiền bối đã nói về công tác cảm hóa. Ngay từ công tác địch vận trước đây cho đến việc giáo dưỡng, giáo dục thanh thiếu niên lầm lỗi trong đời thường. Khi họ nhận ra giá trị của sự lương thiện và có cơ hội được trở lại làm một người bình thường, đó chính là thành công lớn nhất của chúng tôi.

Ông có thể phân tích về áp lực tâm lý – một “vũ khí” vô hình trong những cuộc đối đầu “nghẹt thở” được thể hiện trong phim “Tử chiến trên không” như thế nào? Và trong bộ phim điện ảnh này, bài toán giữa đạo đức, nhiệm vụ và tình thương con người theo ông đã được xử lý thuyết phục chưa?

- Để nói là thuyết phục một cách tinh tế tuyệt đối thì có lẽ chúng tôi vẫn cần phải hoàn thiện hơn, nhưng đạo diễn đã rất nỗ lực thể hiện điều đó. Bạn thấy trên phim, đôi lúc nhận định của người chiến sĩ cũng bị che khuất bởi những tình huống lắt léo, mãi đến phút cuối cùng, họ mới "vỡ òa" ra sự thật về quả lựu đạn giấu trong hũ tro cốt.

Tâm lý của lực lượng Công an là vậy, bất cứ đồng chí nào, dù có đang trực tiếp nhận nhiệm vụ hay không, cũng luôn sẵn sàng dấn thân vào cuộc chiến. Đó là phản xạ tự nhiên đã được đào tạo, giáo dục và thấm nhuần thành trách nhiệm công việc.

Tất nhiên, với một địa hình đặc thù như trên không, người chiến sĩ phải tỉnh táo, linh hoạt và có bản lĩnh chuyên môn cực cao. Bởi trên không trung, nếu chỉ tiêu diệt được địch mà bản thân hy sinh hay để máy bay rơi thì coi như không hoàn thành nhiệm vụ. Phải vừa đấu tranh, vừa thuyết phục, vừa đảm bảo an toàn tuyệt đối cho nhân dân bằng sự thông minh và bản lĩnh thép.

Câu chuyện "Tử chiến trên không" thực chất chỉ mới khắc họa được một phần nhỏ trong đời sống đấu tranh cam go của lực lượng Công an. Sắp tới, chúng tôi sẽ triển khai những dự án khác dựa trên những tình tiết hoàn toàn có thật, thậm chí còn phức tạp và khốc liệt hơn “Tử chiến trên không”. Thách thức lớn nhất của chúng tôi là làm sao đưa được sự thật khốc liệt ấy lên màn ảnh một cách chân thực nhất, để khán giả thấu hiểu mà không cảm thấy bị cường điệu hóa.

Ông phân tích thế nào về tâm lý người chiến sĩ Công an trong thời khắc “sinh – tử” và liệu sự hy sinh đó trong “Tử chiến trên không” có bị cường điệu quá?

- Tôi khẳng định là không hề cường điệu. Trong tình huống nguy hiểm đó, nếu một đồng chí nào mà chọn cách ngồi im, đứng ngoài cuộc chiến, tôi tin rằng khi trở về, họ cũng sẽ tự rời khỏi ngành. Bởi đó là câu chuyện của danh dự.

Danh dự không cho phép người chiến sĩ khoanh tay đứng nhìn đồng đội chiến đấu còn mình thì không. Điều đó không chấp nhận được, trở thành nỗi nhục mà tự bản thân biết, tự mình day dứt, ám ảnh không thể thoát ra suốt cả cuộc đời.

Đặt địa vị bản thân tôi trên chiếc máy bay như trong phim “Tử chiến trên không”, tôi cũng dứt khoát phải tham gia. Khi đã chọn nghề này, đó là trách nhiệm thiêng liêng. Còn tham gia như thế nào sẽ tùy vào tình huống cụ thể, nhưng chắc chắn người chiến sĩ không bao giờ cho phép mình đứng ngoài cuộc chiến.

Cuối cùng, bộ phim “Tử chiến trên không” đã thực hiện sứ mệnh truyền thông xuất sắc ở những điểm nào, thưa ông?

- Hiệu ứng tốt của tác phẩm là điều đáng mừng, nhưng nếu hài lòng và thỏa mãn ngay lúc này, tôi nghĩ chúng tôi sẽ không thể tiến thêm bước nào nữa. Chúng tôi coi đây là thành quả bước đầu đầy khích lệ.

Đây là một dấu mốc quan trọng khi Điện ảnh CAND chính thức quay trở lại với dòng phim điện ảnh dài. Tuy nhiên, thành công này cũng mang lại áp lực rất lớn cho những tác phẩm tiếp theo. Trong nghệ thuật, không ai có thể khẳng định tác phẩm sau sẽ luôn tốt hơn tác phẩm trước, đó là thực tế mà chúng tôi thừa nhận. Sứ mệnh của chúng tôi là tiếp tục nỗ lực để xứng đáng với sự kỳ vọng của nhân dân, mang đến những câu chuyện chân thực và xúc động nhất về lực lượng Công an để xứng đáng với vị thế Điện ảnh CAND.

Cảm ơn ông về cuộc trò chuyện!

Không có nhận xét nào